Trong những năm qua, Adin tiếp tục tập trung vào nâng cao nghiên cứu chuyên sâu đồng thời phát triển đội ngũ của mình, để đảm bảo sản xuất những sản phẩm công nghệ tiên tiến chất lượng cao. Adin cũng hợp tác chặt chẽ với những chuyên gia hàng đầu của ngành công nghiệp nha khoa, các bác sỹ phẫu thuật, kỹ thuật viên, cả trong khối tư nhân và công lập, cùng với các trường nha khoa của những đại học danh tiếng, nhằm cung cấp cho khách hang những kiến thức và thông tin mới nhất, cập nhật nhất. Trong nỗ lực mạnh mẽ của chúng tôi để hỗ trợ các chuyên gia nha khoa từ đầu đến cuối những ca phức tạp nhất của họ, Adin đã tạo ra một bộ tuyển tập những nghiên cứu khoa học và những tóm tắt nghiên cứu ca lâm sàng chuyên ngành. Những nghiên cứu ca lâm sàng và những báo cáo được dựa trên những nghiên cứu nha khoa tiên tiến được tiến hành ở những trường đại học và phòng thí nghiệm khác nhau trên toàn thế giới, cũng như ở những trung tâm sức khỏe cộng đồng và y khoa khu vực. Cam kết của Adin về giáo dục ngày nay sẽ phản ánh tương lai đang tốt lên và đang cải tiến thế giới cắm ghép implant nha khoa. Adin đánh giá cao đào tạo liên tục, cung cấp cho khách hàng những cơ hội nghiên cứu mới, để khám phá và tổng quan những ý tưởng mới trong lĩnh vực cắm ghép implant. Để có danh sách đầy đủ những tóm tắt nghiên cứu, xin hãy vào trang web www.adin-implants.com Để có bản nghiên cứu đầy đủ, xin hãy liên hệ với chúng tôi theo số +972.4.6426732 hoặc tại info@adin-implants.com

Phân tích sự hình thành xương và sự tiến triển đặc tính cơ học của xương xung quanh các hệ thống implant ở giai đoạn lành thương sớm

Mục đích: Implant thương mại khác nhau ở cấp độ đại thể, vi thể và nano, điều này gây khó khăn cho việc phân biệt ảnh hưởng của Implant đến việc tích hợp xương. Mục đích của nghiên cứu này là để đánh giá sự tích hợp sớm của 5 loại implant thương mại có sẵn trên thị trường (Astra OsseoSpeed, Straumann SLA, Intra-Lock Blossom Ossean, Nobel Active, và OsseoFix) phân tích sự hình thành xương và cấu trúc lõm bề mặt ở cấp độ nano. Vật liệu và Phương pháp: Implant được cắm vào xương chày của 18 con chó săn thỏ. Mẫu nghiên cứu được thu lại sau 1, 3 và 6 tuần (n=6 cho mỗi thời điểm) và đánh giá về mô học và cơ học ở cấp độ nano. Kết quả: Những kết quả đã chỉ ra rằng cả thời gian (P<0,01), và hệ thống implant, cũng như thời gian tương tác (P<0,02) ảnh hưởng đáng kể tới sự tiếp xúc của xương với implant (BIC). Tại thời điểm 1 tuần, các nhóm khác nhau đã thống kê được các kết quả khác nhau. Không có những thay đổi đáng kể trong BIC được ghi nhận sau đó. Không có sự khác nhau đáng kể trong thang của mô-đun đàn hồi (E) hoặc trong thang của độ cứng (H) theo thời gian (E:P>0,80; H:P>0,75) hoặc hệ thống implant (E:P>0,90; H:P>0,85). Kết luận: Ảnh hưởng của các thiết kế implant khác nhau trên sự tích hợp xương là rõ ràng, đặc biệt ở những giai đoạn đầu của quá trình lành thương xương.

Đánh giá cơ sinh học và mô học của bề mặt được thổi chất liệu tự tiêu không trôi và thổi nhôm/xử lý axit

Mục tiêu: So sánh sự cố định cơ sinh học và các thông số hình thành xương giữa hai bề mặt implant: thổi chất liệu tự tiêu không trôi (NWRBM) và thổi nhôm/xử lý axit (AB/AE) trong một mẫu thử nghiệm trên chó. Vật liệu và phương pháp: Mô hình bề mặt được đánh giá bằng kính hiển vi điện tử quét, giao thoa quang học và hóa học bằng quang phổ điện tử X-quang (XPS). Sáu con chó săn thỏ khoảng 1,5 tuổi được sử dụng và mỗi con được cấy một implant cho mỗi mặt của một chân (những vị trí phía xa xương quay). Sau thời gian lành thương khoảng 3 tuần, những con chó được chết bằng phương pháp y học và một nửa số implant được thử nghiệm cơ sinh học (lực xoắn tháo implant) và một nửa còn lại được chuyển đi để xử lý mô học không loại bỏ canxi. Phân tích số liệu hình thái mô xem xét đến sự tiếp xúc xương với Implant (BIC) và khu vực xương phần chiếm chỗ (BAFO). Sau khi sự chuẩn tắc của số liệu được kiểm tra với kiểm định Kolmogorov-Smirnov, phân tích thống kê được thực hiện bằng thuật toán Paired T-test với độ tin cậy 95%. Kết quả: Các thông số độ nhám bề mặt Sa (độ nhám bề mặt trung bình) và Sq (trung bình căn bậc hai của bề mặt) thấp hơn đáng kể ở NWRBM so với AB/AE. Quang phổ điện tử X-quang cho thấy sự hiện diện của Ca và P ở NWRBM. Mặc dù không có sự khác biệt đáng kể nào được quan sát thấy cho cả thong số BIC và BAFO (lần lượt là P>0,35 và P>0,11), nhóm NWRBM có độ lớn của momen xoắn lớn hơn đáng kể (P=0,11). Hình thái của xương tương tự giữa các nhóm, điều này cho thấy khung xương tân tạo gần với những bề mặt implant. Kết luận: Việc tăng đáng kể sự cố định cơ sinh học sớm được quan sát ở những implant có bề mặt NWRBM.

Ảnh hưởng của đường kính và độ dài implant lên sự tồn tại: kết quả tạm thời trong hai năm đầu hoạt động chức năng của implant bởi một hãng sản xuất đơn lẻ

Mục tiêu nghiên cứu: Mục tiêu của nghiên cứu này là để đánh giá ảnh hưởng của độ dài và đường kính của implant lên sự tồn tại của chúng. Phương pháp: Một nghiên cứu thuần tập hồi cứu 787 bệnh nhân liên tiếp từ hai cơ sở hành nghề trong khoảng thời gian giữa các năm 2008 và năm 2011 được đánh giá. Đặc điểm nhân khẩu học của bệnh nhân, đặc điểm vùng phẫu thuật và các đặc điểm của implant, cũng như thời gian theo dõi đã được ghi lại trong hồ sơ y khoa. Kết quả: Nhìn chung, 3043 implant đã được nghiên cứu. Tổng tỉ lệ tồn tại là 98,7% với 39 implant được ghi nhận là thất bại. Tỉ lệ tồn tại với implant đường kính hẹp-(<3,75 mm), trung bình- (3,75-5 mm), và rộng- (>5 mm) lần lượt là 98,2%, 98,7%, và 98,5% (P=0,89). Tỉ lệ tồn tại của implant ngắn (<10 mm) và trung bình (10mm hoặc hơn) lần lượt là 97% và 98,7% (P=0,22). Kết luận: Chiều dài và đường kính implant không phải là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới sự tồn tại của implant trong suốt hai năm đầu hoạt động chức năng trong nghiên cứu về một hệ thống implant cụ thể bởi một hãng sản xuất riêng lẻ. Những nghiên cứu tiếp theo dài hạn chuyên sâu hơn nên được tiến hành bởi hai năm chỉ là những kết quả ngắn hạn tạm thời khi đánh giá implant nha khoa.

Thay thế một răng cối với 2 implant nha khoa đường kính hẹp

Mục tiêu nghiên cứu: Mục tiêu chính của nghiên cứu này là để trình bày kết quả của việc phục hồi một răng cối lớn bằng hai implant nha khoa đường kính hẹp. Phương pháp: Một nghiên cứu thuần tập hồi cứu 33 bệnh nhân liên tiếp từ 2 cơ sở hành nghề tư nhân trong khoảng thời gian giữa các năm 2009 và năm 2011 được đánh giá. Những bệnh nhân có một răng cối lớn thứ nhất được cấy bằng 2 implant đường kính hẹp (rộng 3 mm) đã được đề cập trong báo cáo loạt ca bệnh này. Đặc điểm nhân khẩu học, đặc điểm vùng phẫu thuật và những đặc điểm của implant, cũng như thời gian theo dõi đã được ghi lại trong hồ sơ y khoa. Kết quả: Nhìn chung, 33 bệnh nhân được cấy 66 implant thay thế 33 răng cối lớn thứ nhất bị mất. Tuổi của bệnh nhân trong khoảng từ 23 tuổi tới 76 tuổi với độ tuổi trung bình 49,2±12,7 tuổi. Hầu hết các implant được dùng để thay thế cho một răng cối lớn hàm dưới (76%) và 16 implant được dùng để thay thế 8 răng cối lớn hàm trên. Có 2 ca bệnh nhân được cấy implant tức thì. Khoảng mất răng trung bình giữa 2 răng liền kề là 12,1±1,0 mm. Thời gian theo dõi trong khoảng 10 tới 18 tháng (trung bình, 12,2±1,9 tháng). Tất cả implant đều tồn tại được trong khoảng thời gian theo dõi. Một implant xuất hiện mất xương 1 mm trong 12 tháng theo dõi. Kết luận: Thay thế một răng cối lớn mất đơn lẻ bằng 2 implant nha khoa đường kính hẹp có thể coi như một sự tuỳ chọn điều trị hữu hiệu cung cấp những kết quả tốt và tiên lượng lâu dài.

Sự tác động của đường kính implant lên độ bền và các kiểu thất bại của các loại mão răng cối lớn

Độ bền và các kiểu thất bại của các loại mão răng cối lớn nâng đỡ bởi ba kiểu thiết kế nâng đỡ trên implant khác nhau được kiểm tra dựa theo những nhóm sau: nhóm 1, một implant đường kính tiêu chuẩn (3,75 mm); nhóm 2, một implant đường kính hẹp (3mm); và nhóm 3, hai implant đường kính hẹp (3mm). Các tải trọng sẽ được áp dụng mô phỏng theo chu kì hoạt động trong miệng theo phương pháp thử nghiệm độ bền theo chu kỳ gia tốc lực. Giá trị β cho những nhóm 1 và 3 (lần lượt là 1,57 và 2,48) cho thấy rằng sự mỏi thúc đẩy cho sự thất bại của cả hai nhóm, nhưng không đúng với nhóm 2 (0,39). Sự thất bại của vít vặn trụ phục hình là kiểu thất bại chính. Độ mạnh và độ bền ở nhóm 1 và nhóm 3 cao hơn nhiều so với nhóm 2.